Chương 14
Sau khi phiên tòa hình sự kết thúc, tôi vẫn còn một nhiệm vụ quan trọng cần hoàn thành, chính thức thực hiện điều kiện trong di chúc của ông nội trước toàn thể hội đồng quản trị và các thành viên gia tộc.
Buổi họp được tổ chức tại chính sảnh đường nơi tang lễ ông nội diễn ra hơn một tháng trước, như một sự khép lại trọn vẹn cho hành trình đầy biến động này. Luật sư Hà Vĩnh Khang đứng ra chủ trì buổi lễ, tay cầm phong bì thứ hai của di chúc, giờ đây đã có thể được công bố công khai theo đúng thời hạn ba mươi ngày quy định.
“Theo di nguyện của lão gia Kiều Chấn Đường, người được nhắc đến trong điều kiện của di chúc, chính là ông Lâm Thư Hàng, con trai ruột của lão gia với bà Lâm Nguyệt Hoa.” Ông Hà đọc to trước toàn thể những người có mặt. “Lão gia để lại cho ông Lâm Thư Hàng một phần tài sản thừa kế hợp pháp tương đương mười lăm phần trăm cổ phần tập đoàn, với điều kiện chủ tịch mới, cô Kiều Nhã Trúc, phải chính thức công nhận mối quan hệ huyết thống này trước toàn thể gia tộc và hội đồng quản trị.”
Tôi đứng dậy, bước đến trước micro, ánh mắt quét qua từng gương mặt đang dõi theo mình, cha tôi, Lục thị, Nhã Kỳ, và cả những thành viên hội đồng quản trị đã theo dõi toàn bộ vụ án qua truyền thông suốt những tuần qua.
“Tôi, Kiều Nhã Trúc, chính thức công nhận ông Lâm Thư Hàng là con trai ruột của ông nội tôi, Kiều Chấn Đường, theo đúng kết quả xét nghiệm ADN đã được xác thực và di nguyện của ông để lại.” Tôi nói, giọng vang lên rõ ràng, dứt khoát. “Đây là sự thật huyết thống không thể chối bỏ, và tôi tôn trọng di nguyện cuối cùng của ông nội tôi.”
Tôi dừng lại một chút, nhìn thẳng vào những gương mặt đang chăm chú lắng nghe, trước khi tiếp tục.
“Nhưng tôi cũng muốn khẳng định rõ ràng, việc công nhận quan hệ huyết thống này hoàn toàn tách biệt với trách nhiệm hình sự mà ông Lâm Thư Hàng đã và đang phải gánh chịu trước pháp luật, vì những tội ác ông ấy đã gây ra cho tôi và em gái tôi suốt mười hai năm qua. Quan hệ máu mủ không phải là tấm khiên miễn trừ cho tội lỗi, và công lý không thể bị đánh đổi bởi bất kỳ danh phận nào.”
Cả phòng họp im lặng, nhiều ánh mắt tán thưởng hướng về phía tôi.
“Về phần mười lăm phần trăm cổ phần được thừa kế theo di chúc, tôi đề nghị thiết lập theo phương án sau.” Tôi tiếp tục, ra hiệu cho trợ lý trình chiếu văn bản pháp lý đã chuẩn bị sẵn lên màn hình. “Năm phần trăm sẽ được chuyển trực tiếp thành khoản bồi thường cho cô Kiều Nhã Kỳ, vì những tổn thương thể chất và tinh thần cô ấy phải gánh chịu suốt mười năm qua. Mười phần trăm còn lại sẽ được sử dụng để thành lập Quỹ Kiều Chấn Đường, chuyên hỗ trợ pháp lý miễn phí cho các nạn nhân bị vu oan trong những vụ án gia đình phức tạp, nhằm tưởng nhớ di nguyện cuối cùng của ông nội tôi, người đã dành những năm tháng cuối đời để cố gắng sửa chữa lỗi lầm quá khứ.”
Đề xuất của tôi nhận được sự đồng thuận tuyệt đối từ hội đồng quản trị. Nhã Kỳ, ngồi ở hàng ghế đầu, bật khóc nức nở khi nghe tôi công bố phương án bồi thường dành cho mình.
“Chị không cần phải làm vậy.” Cô nói, giọng nghẹn ngào khi buổi họp kết thúc.
“Chị làm vậy không phải vì nghĩa vụ, mà vì em xứng đáng được bù đắp phần nào cho những gì đã mất.” Tôi ôm lấy em gái mình, cảm nhận được sự ấm áp chân thật giữa hai chị em, lần đầu tiên sau mười năm dài đằng đẵng.
Sau buổi họp, khi mọi người dần rời khỏi sảnh đường, Lục thị tiến đến gần tôi, ánh mắt bà đầy phức tạp.
“Cảm ơn con, vì đã không vạch trần bí mật của ta trước toàn thể hội đồng quản trị, dù ta biết mình không xứng đáng được như vậy.” Bà nói, giọng nhỏ nhẹ khác hẳn thái độ kiêu ngạo ngày trước.
“Tôi không làm vậy vì bà.” Tôi đáp thẳng thắn. “Tôi làm vậy vì đứa trẻ vô tội mà bà đã phải xa cách suốt bao năm qua, không đáng phải chịu thêm bất kỳ tổn thương nào từ sự phơi bày không cần thiết. Nhưng điều đó không có nghĩa tôi đã tha thứ hoàn toàn cho những gì bà đã làm với tôi mười năm trước.”
Lục thị cúi đầu, không nói thêm lời nào, lặng lẽ rời khỏi sảnh đường. Tôi nhìn theo bóng lưng bà, lòng không còn cảm giác hận thù gay gắt như trước, nhưng cũng chưa sẵn sàng để hoàn toàn buông bỏ mọi oán trách.
Có những vết thương, cần nhiều thời gian hơn để có thể thật sự lành lặn.
Những tuần sau khi vụ án khép lại, cuộc sống của tôi dần trở lại nhịp điệu bình thường, dù không còn giống như trước khi mọi chuyện xảy ra. Tập đoàn Kiều Thị, dưới sự tái cấu trúc của tôi, dần lấy lại được niềm tin từ giới đầu tư và cổ đông, cổ phiếu phục hồi ổn định, các dự án bị đình trệ do biến động nội bộ cũng lần lượt được khởi động trở lại.
Cha tôi, sau tất cả những biến cố, quyết định lui về vị trí cố vấn danh dự, nhường lại toàn quyền điều hành cho tôi. Ông dành nhiều thời gian hơn để thăm hỏi, trò chuyện cùng tôi, cố gắng bù đắp phần nào cho khoảng cách mười năm đã mất.
“Cha xin lỗi, vì đã không phải là một người cha đủ tốt trong suốt những năm qua.” Ông nói với tôi trong một buổi chiều cuối tuần, khi hai cha con cùng ngồi uống trà trong khu vườn của biệt thự chính. “Cha biết, lời xin lỗi không thể bù đắp được mười năm con đã mất, nhưng cha mong con cho cha cơ hội để làm một người cha tốt hơn, trong quãng thời gian còn lại.”
Tôi nhìn ông, cảm nhận được sự chân thành trong từng lời nói. “Con không thể quên đi mười năm đã qua, cha à. Nhưng con sẵn sàng cho cha, và cho cả bản thân con, một cơ hội để bắt đầu lại, từng bước một.”
Đó là câu trả lời chân thành nhất tôi có thể đưa ra, không phải sự tha thứ hoàn toàn ngay lập tức, mà là một cánh cửa hé mở cho khả năng hàn gắn dần dần theo thời gian.
Về phần Nhã Kỳ, cô quyết định tạm rời khỏi thành phố một thời gian, đến một trung tâm phục hồi chức năng chuyên nghiệp ở nước ngoài, với hy vọng có thể cải thiện phần nào khả năng vận động của chân sau nhiều năm không được điều trị đúng cách. Khoản bồi thường từ phần tài sản thừa kế đã giúp cô có đủ điều kiện tài chính để theo đuổi quá trình điều trị này mà không phải lo lắng.
“Khi nào ổn định, em sẽ về thăm chị thường xuyên hơn.” Cô nói trước khi lên đường, ôm chặt lấy tôi tại sân bay. “Cảm ơn chị, vì đã cho em một khởi đầu mới, dù em biết mình không xứng đáng với tất cả những gì chị đã làm cho em.”
“Em xứng đáng, Nhã Kỳ.” Tôi đáp, siết chặt vòng tay quanh em gái mình. “Em cũng là nạn nhân trong chuyện này, không kém gì chị. Hãy chăm sóc bản thân thật tốt, và trở về khi em đã sẵn sàng.”
Về phần Lâm Thư Hàng, sau khi thụ án được vài tháng, tôi nhận được một lá thư từ trại giam gửi đến, nét chữ anh ta viết run rẩy hơn nhiều so với sự tự tin, điềm tĩnh mà tôi từng chứng kiến.
“Chị Nhã Trúc,
Tôi biết mình không có tư cách để xin chị bất cứ điều gì, sau tất cả những gì đã gây ra. Nhưng tôi muốn chị biết, quỹ hỗ trợ pháp lý mang tên cha tôi mà chị thành lập, đã khiến tôi suy nghĩ rất nhiều trong những tháng ngày sau song sắt. Có lẽ, đó là cách tốt nhất để những gì tôi đã làm, dù không thể xóa bỏ, cũng có thể mang lại một chút giá trị tích cực nào đó cho những người khác, những người cũng từng là nạn nhân như tôi và như chị, trong quá khứ.
Tôi sẽ chấp hành đầy đủ bản án của mình, không kháng cáo, không tìm cách trốn tránh trách nhiệm. Đó là điều duy nhất tôi có thể làm, để phần nào chuộc lại lỗi lầm.
Lâm Thư Hàng.”
Tôi đọc lá thư, lòng dâng lên nhiều cảm xúc lẫn lộn khó gọi tên. Tôi không hồi âm lại lá thư đó, nhưng tôi giữ nó lại cẩn thận, như một lời nhắc nhở về sự phức tạp của con người, nơi ranh giới giữa nạn nhân và tội đồ đôi khi không hề rõ ràng như ta tưởng.
Cuộc sống dần ổn định trở lại, nhưng có một điều vẫn còn bỏ ngỏ trong lòng tôi, mối quan hệ giữa tôi và Thừa Uyên, người đã âm thầm đồng hành cùng tôi suốt mười năm qua, và càng trở nên gắn bó hơn qua từng biến cố vừa trải qua.
