Chương 3
Giữa lúc mọi chuyện rối ren, ông Lê Anh Minh, trưởng đoàn khảo sát tỉnh, ghé về xã Bình An để kiểm tra tiến độ khai thác thử nghiệm.
Tôi gặp lại ông ở đầu ruộng, nơi công nhân đang dựng thêm giàn giáo cho khu khai thác mở rộng. Ông vẫn dáng vẻ điềm đạm như lần đầu tôi gặp, chỉ có phần chững chạc hơn.
“Nghe nói bên xã đang có chuyện tranh chấp giấy tờ,” ông Minh nói, không vòng vo. “Chị Lan có cần tôi hỗ trợ gì không?”
Tôi hơi bất ngờ vì ông biết chuyện nhanh vậy, nhưng cũng không giấu diếm.
“Có người làm giả biên bản giao đất, đứng tên gia đình chồng cũ của tôi. Tôi đã gửi đơn lên huyện xin giám định chữ ký, nhưng việc này chắc mất thời gian.”
Ông Minh trầm ngâm một lúc.
“Đoàn khảo sát của tôi có lưu toàn bộ hồ sơ làm việc với chị từ đầu, bao gồm cả bản sao cuốn sổ của cha chị mà chị đã cho tôi xem khi đó, có đóng dấu tiếp nhận của tỉnh. Nếu cần, tôi có thể làm văn bản xác nhận gửi kèm hồ sơ của chị lên huyện, chứng minh cuốn sổ và các bằng chứng địa chất đã được cơ quan nhà nước tiếp nhận, xử lý từ trước khi có tranh chấp. Việc này sẽ củng cố thêm cho chị.”
Tôi nhìn ông, thật lòng cảm kích.
“Cảm ơn ông. Tôi không ngờ ông lại sẵn lòng giúp đến vậy.”
Ông Minh cười nhẹ, có chút ngượng nghịu hiếm thấy ở một người vốn nghiêm túc.
“Chị đừng cảm ơn vội. Tôi làm việc này vì công tâm, chị có bằng chứng thật, đóng góp cho tỉnh một nguồn khoáng sản giá trị, không có lý do gì để tôi đứng nhìn người khác dùng giấy tờ giả cướp công của chị.”
Ông dừng lại một chút, rồi nói thêm, giọng chậm hơn.
“Với lại… tôi cũng nể phục cách chị làm việc. Không nhiều người phụ nữ ở vùng này dám tự mình đào một cái hố sâu bốn mét chỉ dựa vào một cuốn sổ tay của người cha chưa từng gặp mặt.”
Tôi hơi bối rối trước lời khen ấy, chỉ cúi đầu, không đáp.
Từ hôm đó, ông Minh thường xuyên có lý do để ghé qua xã Bình An, khi thì kiểm tra mẫu đất, khi thì mang theo tài liệu kỹ thuật để tôi tham khảo thêm về việc mở rộng khai thác.
Tiểu Yến, đứa con gái tinh ý của tôi, có lần hỏi khẽ.
“Mẹ ơi, chú Minh có thích mẹ không?”
Tôi giật mình, gõ nhẹ lên đầu con.
“Con nít không được nói bậy. Chú Minh giúp mẹ chuyện làm ăn thôi.”
Tiểu Yến cười tủm tỉm, không nói thêm, nhưng ánh mắt con bé làm tôi chột dạ suốt buổi tối hôm đó.
Tôi không phủ nhận, từ ngày gặp lại ông Minh trong hoàn cảnh khó khăn này, lòng tôi có chút xao động khác lạ, thứ cảm giác tôi đã chôn kín từ lâu, từ ngày cuộc hôn nhân với Khải trở nên lạnh nhạt.
Nhưng tôi cũng hiểu, đây chưa phải lúc để nghĩ đến chuyện riêng tư. Trước mắt, tôi còn phải lo cho xong chuyện giấy tờ, lo cho hai đứa con, lo giữ vững những gì mình đã gây dựng.
Tình cảm, nếu là thật, sẽ đợi được.
Ba tuần sau, huyện cử người về, cùng đại diện xã tổ chức một cuộc họp mở rộng, có mặt cả những hộ dân liên quan và người làm chứng, để giải quyết dứt điểm tranh chấp đất đai khu ruộng sau núi.
Phòng họp hợp tác xã hôm đó chật kín người. Tin tức về vụ tranh chấp đất của tôi đã lan khắp xã, ai cũng tò mò muốn xem kết quả ra sao.
Ông Bàng vẫn ngồi ghế chủ trì, nhưng lần này có thêm một cán bộ phòng địa chính huyện, tên Cao, ngồi cạnh, tay ôm một tập hồ sơ dày.
Đức và Khải ngồi một bên, còn tôi ngồi phía đối diện, bên cạnh là ông Tư, người tôi mời đến làm nhân chứng.
Ông Cao mở đầu cuộc họp bằng việc công bố kết quả giám định chữ ký từ phòng công chứng huyện.
“Sau khi đối chiếu, chữ ký của ông Phạm Văn Đạt trên văn bản do phía gia đình ông Trần Minh Đức cung cấp, không trùng khớp với chữ ký gốc lưu tại huyện của ông Đạt trong cùng giai đoạn năm 1983. Trong khi đó, chữ ký trên văn bản do chị Đỗ Thị Lan cung cấp, khớp hoàn toàn với mẫu chữ ký gốc.”
Cả phòng họp xôn xao. Đức mặt tái đi, còn Khải cúi gằm mặt xuống, hai tay siết chặt vào nhau.
Tôi không lên tiếng vội, chỉ ngồi im, chờ đợi.
Ông Cao tiếp tục, giọng nghiêm nghị hơn.
“Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được văn bản xác nhận từ đoàn khảo sát vật liệu của tỉnh, do kỹ sư Lê Anh Minh ký, xác nhận việc chị Đỗ Thị Lan đã cung cấp toàn bộ hồ sơ, bao gồm sổ tay địa chất của cha chị, cho đoàn khảo sát từ mùa xuân năm ngoái, trước khi có bất kỳ tranh chấp nào phát sinh. Điều này càng củng cố tính xác thực của biên bản giao đất mà chị Lan đang nắm giữ.”
Ông Tư đứng lên, xin phép được nói.
“Tôi là hàng xóm của chị Lan từ ngày chị bị đuổi khỏi nhà bà Liên. Tôi xin làm chứng, chính tay tôi cho chị mượn cuốc xẻng để đào đất, chứng kiến chị đào giếng suốt ba tuần liền, một mình, không ai giúp đỡ. Lúc đó, cả gia đình bên chồng chị, kể cả bà Liên, anh Khải, chú Đức, không ai bén mảng ra thăm hỏi lấy một lần. Bây giờ thấy đất có giá trị, mới quay lại đòi chia phần, tôi thấy vậy là không phải đạo.”
Lời ông Tư nói khiến nhiều người trong phòng gật gù đồng tình. Bà Liên, ngồi ở hàng ghế cuối, cúi mặt xuống, không dám nhìn ai.
Ông Bàng, lúc này không còn giữ được vẻ điềm tĩnh ban đầu, lên tiếng chữa cháy.
“Việc này để phòng địa chính huyện tiếp tục làm rõ, xã chỉ tạo điều kiện cho các bên trình bày thôi.”
Ông Cao gật đầu, kết luận.
“Căn cứ vào kết quả giám định và các bằng chứng liên quan, chúng tôi xác định biên bản giao đất năm 1983 mang tên chị Đỗ Thị Lan là văn bản hợp lệ. Văn bản do ông Trần Minh Đức cung cấp có dấu hiệu làm giả chữ ký, chúng tôi sẽ chuyển hồ sơ này cho cơ quan điều tra huyện xử lý theo quy định pháp luật.”
Đức đứng bật dậy, mặt trắng bệch.
“Tôi không làm giả gì cả, đó là oan cho tôi.”
Ông Cao nhìn Đức, giọng lạnh.
“Việc có oan hay không, cơ quan điều tra sẽ làm rõ. Anh có quyền trình bày và cung cấp thêm bằng chứng nếu có.”
Cuộc họp kết thúc trong không khí nặng nề. Tôi thu dọn giấy tờ, đứng dậy ra về, không nhìn về phía Đức hay Khải.
Nhưng khi đi ngang qua hàng ghế cuối, tôi dừng lại một chút trước mặt bà Liên.
Bà ngước lên nhìn tôi, ánh mắt phức tạp, vừa xấu hổ vừa có gì đó gần như cầu xin.
Tôi không nói gì, chỉ khẽ gật đầu, rồi đi tiếp.
Chuyện chưa kết thúc. Nhưng ít nhất, sự thật đã bắt đầu được phơi bày.
Không cam chịu thua cuộc, hơn một tuần sau cuộc họp, Đức tìm cách khác.
Cậu ta thuê một người quen làm việc tại phòng tư pháp huyện, tên là ông Cường, vốn có tiếng là hay nhận giúp việc cho những vụ kiện tụng đất đai phức tạp, để soạn đơn kiện, yêu cầu tòa án huyện xem xét lại toàn bộ vụ việc, với lý do biên bản giao đất năm 1983 chưa được lập đúng trình tự pháp lý thời đó, cần hủy bỏ và giao lại quyền quyết định cho hợp tác xã.
Tôi nhận được giấy triệu tập của tòa án huyện vào một buổi sáng, tay run nhẹ khi mở phong bì, dù tôi đã chuẩn bị tinh thần từ trước.
Ông Tư khuyên tôi tìm người am hiểu luật để hỗ trợ, thay vì tự mình đối mặt.
May mắn, qua giới thiệu của ông Minh, tôi liên hệ được với một luật sư trẻ ở huyện, cô Nguyễn Thị Hạnh, người từng học luật đất đai và có tiếng công tâm.
Cô Hạnh xem qua toàn bộ hồ sơ của tôi, từ biên bản giao đất gốc, hợp đồng khai thác, kết quả giám định chữ ký, đến văn bản xác nhận của đoàn khảo sát tỉnh, gật đầu tự tin.
“Hồ sơ của chị rất chặt chẽ, gần như không có kẽ hở. Đơn kiện của phía bên kia chủ yếu dựa vào lập luận về trình tự pháp lý, nhưng lại không có bằng chứng cụ thể nào chứng minh biên bản giao đất của chị sai trình tự. Ngược lại, họ đã bị phát hiện làm giả chữ ký ở văn bản khác, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ tin cậy của toàn bộ lập luận phía họ trước tòa.”
Tôi thở phào phần nào, nhưng vẫn không dám chủ quan.
“Vậy còn khả năng họ sẽ tìm cách khác để gây khó dễ không, thưa cô?”
Cô Hạnh trầm ngâm.
“Có thể. Người đã một lần làm giả giấy tờ, thường sẽ không dừng lại dễ dàng, nhất là khi đã dấn thân quá sâu. Chị nên chuẩn bị tâm lý cho những chiêu trò khác, có thể liên quan đến đời tư, đến các con của chị, hoặc thậm chí đến chồng cũ của chị.”
Lời cô Hạnh như một điềm báo.
Vài ngày sau phiên hòa giải sơ bộ tại tòa huyện, nơi cả hai bên trình bày quan điểm ban đầu và tòa xác định sẽ mở phiên xét xử chính thức trong vòng một tháng tới, tôi bắt đầu nghe những tin đồn mới, ác ý hơn, lan trong xã.
Người ta đồn rằng tôi từng có quan hệ bất chính với ông Minh từ trước, rằng chính vì vậy ông mới ưu ái giúp đỡ tôi trong việc khảo sát đất đai, thậm chí có người còn thêu dệt rằng cuốn sổ của cha tôi là giả, do tôi và ông Minh cấu kết dựng lên để chiếm đoạt tài nguyên của nhà nước.
Tôi biết ngay, đây là đòn phản công của Đức, đánh vào danh dự và uy tín của tôi, cũng như của ông Minh, để làm lung lay niềm tin của tòa án và dư luận vào tính xác thực trong hồ sơ của tôi.
Tối hôm đó, tôi ngồi một mình trong nhà, nhìn hai đứa con đã ngủ say, lòng nặng trĩu.
Không phải tôi sợ những lời đồn đại về bản thân. Nhưng tôi sợ chúng ảnh hưởng đến các con, đến uy tín của ông Minh, người đã giúp tôi bằng cả sự công tâm nghề nghiệp lẫn tấm lòng chân thành.
Tôi quyết định, không thể ngồi yên chờ đợi nữa. Đã đến lúc phải điều tra ngược lại, tìm ra gốc rễ của mọi chuyện, thay vì chỉ mãi phòng thủ.
