Chương 5
Trong lúc tôi đang chuẩn bị quay lại Đà Lạt tìm Minh Khải, một thông tin bất ngờ khác xuất hiện, lần này liên quan đến Giang Hiểu Yên.
Việt Khang gọi tôi vào một buổi tối muộn, giọng có chút gấp gáp hiếm thấy.
“Chị cần xem cái này ngay,” anh nói, gửi qua email một tập hồ sơ nhân sự.
Tôi mở ra, đọc lướt qua. Đó là hồ sơ lý lịch của Giang Hiểu Yên, người tôi vẫn nghĩ chỉ đơn thuần là nhân viên marketing trẻ tuổi tại tập đoàn Lâm, người đã dan díu với chồng tôi.
“Cô ta từng làm việc ba năm tại một quỹ đầu tư có trụ sở tại Singapore, trước khi chuyển về làm cho tập đoàn Lâm,” Việt Khang nói qua điện thoại. “Quỹ đầu tư đó, theo hồ sơ công khai, từng nắm giữ một phần cổ phần trong đối thủ cạnh tranh trực tiếp của tập đoàn Lâm trong mảng bất động sản công nghiệp.”
Tôi cau mày.
“Anh đang nói cô ta được cài vào tập đoàn Lâm?”
“Tôi không dám khẳng định chắc chắn,” anh nói, “nhưng thời điểm cô ta chuyển việc trùng khớp một cách đáng ngờ với thời điểm đối thủ của tập đoàn Lâm bắt đầu thu thập thông tin về các dự án nội bộ của họ. Và mối quan hệ giữa cô ta và Lâm Thiệu Tường bắt đầu chỉ ba tháng sau khi cô ta vào công ty.”
Tôi ngồi lặng đi, nghĩ lại tất cả những gì tôi biết về Giang Hiểu Yên: giọng nói ngọt ngào, dáng vẻ có phần ngây thơ khi gọi điện cho tôi, câu nói “chị Vân Kỳ” đầy vẻ tôn trọng giả tạo.
“Nếu điều anh nói đúng,” tôi chậm rãi, “thì Giang Hiểu Yên không đơn thuần là một nhân tình tham lam. Cô ta có thể là gián điệp công nghiệp, cố tình tiếp cận Lâm Thiệu Tường để lấy thông tin nội bộ cho đối thủ.”
“Đó là khả năng tôi nghĩ chị cần cân nhắc,” Việt Khang nói. “Và nếu đúng vậy, căn biệt thự cô ta cố chiếm đoạt có thể không chỉ vì lòng tham cá nhân. Có thể cô ta đang thực hiện một nhiệm vụ, và căn nhà chỉ là phần thưởng, hoặc là bình phong để rửa tiền cho bên thuê cô ta.”
Tôi quyết định gặp trực tiếp Giang Hiểu Yên một lần nữa, lần này không phải để đối đầu, mà để quan sát.
Chúng tôi gặp nhau tại một quán cà phê, cô ta đến với vẻ ngoài tiều tụy hơn lần trước, không còn vẻ tự tin ban đầu.
“Chị gọi tôi ra đây làm gì?” cô ta hỏi, giọng cảnh giác.
“Tôi tò mò,” tôi nói, quan sát từng biểu cảm của cô ta. “Cô làm việc ở Singapore ba năm, rồi đột ngột về nước, vào làm cho tập đoàn Lâm. Tại sao?”
Ánh mắt cô ta thoáng chút hoảng loạn, rất nhanh, nhưng đủ để tôi nhận ra.
“Chị điều tra tôi?” cô ta hỏi ngược lại, giọng run nhẹ.
“Tôi chỉ đang cố hiểu, tại sao một người có sự nghiệp tốt ở nước ngoài lại từ bỏ tất cả để về làm nhân viên marketing bình thường, rồi dan díu với một người đàn ông đã có gia đình.” Tôi nhìn thẳng vào mắt cô ta. “Trừ khi đó không phải là lựa chọn tình cờ.”
Giang Hiểu Yên im lặng rất lâu, tay siết chặt tách cà phê.
“Tôi không thể nói gì cả,” cuối cùng cô ta thì thầm. “Nếu tôi nói, tôi sẽ mất tất cả, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng.”
“Vậy ai thuê cô?” tôi hỏi thẳng.
Cô ta lắc đầu, mắt đỏ hoe.
“Tôi không thể nói. Nhưng tôi có thể nói với chị một điều,” cô ta ngẩng lên nhìn tôi, “căn biệt thự đó, tôi chưa từng thực sự muốn có nó. Tôi chỉ làm theo chỉ đạo, để giữ Lâm Thiệu Tường tin tưởng tôi, phục vụ cho một mục đích khác lớn hơn nhiều so với một căn nhà.”
“Mục đích gì?”
Cô ta đứng dậy, để lại một tờ tiền trên bàn, không nhìn tôi thêm lần nào.
“Nếu chị muốn biết, chị cần hỏi đúng người. Không phải tôi.” Cô ta bước đi, dáng vẻ vội vã như đang chạy trốn khỏi chính mình.
Tôi ngồi lại một mình, nhìn tách cà phê nguội dần, nghĩ về câu nói cuối cùng của cô ta.
Nếu Giang Hiểu Yên chỉ là một quân cờ khác, vậy ai là người thực sự đang điều khiển toàn bộ ván cờ này, từ phía bên kia?
Ba ngày sau cuộc gặp với Giang Hiểu Yên, tôi nhận được cuộc gọi khiến tim tôi ngừng đập một nhịp.
“Cha chị vừa được đưa vào bệnh viện,” giọng trợ lý của cha tôi hoảng hốt qua điện thoại. “Ông ngã trong văn phòng, bác sĩ nghi ngờ đột quỵ nhẹ.”
Tôi lao đến bệnh viện, tay run đến mức không thể bấm đúng nút thang máy trong lần thử đầu tiên.
Bác sĩ nói cha tôi may mắn được phát hiện sớm, cơn đột quỵ nhẹ không để lại di chứng nghiêm trọng, nhưng ông cần nghỉ ngơi hoàn toàn ít nhất một tháng, tránh mọi căng thẳng.
Tôi ngồi cạnh giường bệnh, nhìn cha, người luôn mạnh mẽ và điềm tĩnh, giờ nằm yếu ớt với dây truyền dịch trên tay.
“Con xin lỗi,” ông thì thầm khi tỉnh lại, “vì đã để con phải một mình gánh vác chuyện này ngay lúc quan trọng nhất.”
“Cha đừng nói vậy,” tôi nắm tay ông. “Cha chỉ cần khỏe lại. Chuyện còn lại để con lo.”
Nhưng trong lòng tôi không khỏi nghi ngờ. Áp lực công việc là một chuyện, nhưng thời điểm cha tôi ngã bệnh, đúng lúc chúng tôi sắp có bằng chứng đủ mạnh để đối đầu trực diện với tập đoàn Lâm, khiến tôi không thể không đặt câu hỏi.
Tôi gọi cho Việt Khang ngay tại hành lang bệnh viện.
“Anh có thể kiểm tra giúp tôi, liệu có dấu hiệu bất thường nào trong tình trạng sức khỏe của cha tôi không? Tôi không muốn nghi ngờ vô căn cứ, nhưng thời điểm này quá trùng hợp.”
“Tôi sẽ nhờ người quen kiểm tra hồ sơ bệnh án, một cách kín đáo,” Việt Khang nói, giọng nghiêm túc. “Nhưng chị cũng nên chuẩn bị tinh thần, có thể đây chỉ đơn giản là hậu quả của áp lực và tuổi tác. Đừng để nỗi nghi ngờ khiến chị kiệt sức thêm.”
Anh nói đúng, nhưng tôi không thể không cảnh giác.
Tối đó, khi tôi đang ngồi trực bên giường cha, luật sư Minh gọi, giọng có chút do dự.
“Tôi vừa nhận được một tin nhắn ẩn danh,” ông nói. “Nội dung là một lời cảnh báo, khuyên chị nên dừng vụ kiện lại, vì lợi ích sức khỏe của gia đình.”
Tôi siết chặt điện thoại.
“Họ đang đe dọa tôi thông qua sức khỏe của cha.”
“Tôi không thể khẳng định tin nhắn đó liên quan trực tiếp đến việc cha chị nhập viện,” luật sư Minh nói thận trọng, “nhưng cách gửi lời cảnh báo ngay sau khi sự việc xảy ra, chắc chắn không phải ngẫu nhiên. Họ muốn chị hiểu rằng họ đang theo dõi mọi diễn biến trong gia đình chị.”
Tôi nhìn cha đang ngủ, gương mặt bình yên hiếm hoi, nghĩ đến việc phải lựa chọn giữa an toàn của ông và công lý tôi đang theo đuổi.
“Tôi sẽ không dừng lại,” tôi nói, giọng cứng rắn hơn tôi tưởng. “Nếu tôi dừng lại vì sợ hãi, họ sẽ dùng chính nỗi sợ đó để kiểm soát tôi mãi mãi. Nhưng tôi cần đảm bảo an toàn cho cha trước tiên.”
“Tôi đồng ý,” luật sư Minh nói. “Tôi sẽ thuê thêm người bảo vệ riêng cho bệnh viện, kín đáo, không gây chú ý.”
Đêm đó, tôi ngồi một mình trong phòng bệnh, nhìn ánh đèn hành lang hắt qua khe cửa, nghĩ về hành trình mình đã đi qua: từ một người vợ bị phản bội, đến một người thừa kế bí mật của một ván cờ chính trị kinh doanh kéo dài mười hai năm, và giờ, một người con gái phải bảo vệ cha mình khỏi những kẻ giấu mặt.
Điện thoại tôi rung. Tin nhắn từ Việt Khang.
“Tôi đang trên đường đến bệnh viện. Chị không cần một mình đâu.”
Tôi nhìn dòng chữ đó, cảm giác một điều gì đó ấm áp lan ra trong lồng ngực, giữa tất cả những lạnh lẽo và toan tính đang bủa vây quanh mình.
Nửa giờ sau, Việt Khang xuất hiện ở cửa phòng bệnh, tay cầm hai ly trà nóng.
“Tôi không giỏi an ủi,” anh nói, đưa tôi một ly. “Nhưng tôi giỏi ở lại.”
Tôi cầm lấy ly trà, tay chạm nhẹ vào tay anh trong khoảnh khắc ngắn ngủi, và lần đầu tiên sau rất nhiều ngày căng thẳng, tôi cảm thấy mình không phải chiến đấu một mình.
Cha tôi hồi phục nhanh hơn dự kiến, nhưng bác sĩ vẫn yêu cầu ông tránh xa mọi căng thẳng công việc. Tôi giấu ông phần lớn diễn biến căng thẳng của vụ kiện, chỉ báo cáo những tiến triển tích cực.
Trong khi đó, Minh Khải đồng ý ra mặt làm chứng chính thức, sau nhiều cuộc gọi thuyết phục của tôi.
“Tôi làm điều này không phải vì cổ phần hay tiền bạc,” ông nói qua điện thoại trước ngày bay vào thành phố. “Tôi làm vì tôi nợ cô một lời xin lỗi, vì đã im lặng quá lâu, để cô phải một mình đối mặt với hậu quả của những quyết định cô không hề tham gia.”
Với sự xuất hiện của Minh Khải, cùng bằng chứng gian lận tài chính từ Trần Bảo Long, và hồ sơ điều tra chi tiết của Việt Khang về cấu trúc sở hữu ẩn giấu, luật sư Minh và tôi quyết định đưa toàn bộ vụ việc ra ánh sáng tại đại hội cổ đông thường niên của tập đoàn Lâm, dự kiến diễn ra trong ba ngày tới.
Đêm trước đại hội, chúng tôi tập trung tại văn phòng luật sư Minh: tôi, luật sư Minh, Việt Khang, và cả Minh Khải, người vừa từ Đà Lạt bay vào chiều hôm đó.
“Chúng ta cần trình bày theo đúng trình tự,” luật sư Minh nói, trải các tài liệu ra bàn. “Đầu tiên, xác lập tư cách cổ đông hợp pháp của chị Vân Kỳ thông qua cấu trúc ủy thác Bạch Vân Đầu Tư, với sự xác nhận của ông Minh Khải. Sau đó, trình bày bằng chứng gian lận báo cáo tài chính từ ông Trần Bảo Long. Cuối cùng, đề xuất bỏ phiếu bất tín nhiệm với ban lãnh đạo hiện tại.”
“Lâm Chấn Quốc sẽ không ngồi yên nghe hết,” tôi nói. “Ông ta sẽ tìm cách ngăn cản ngay từ đầu.”
“Ông ta không thể,” Minh Khải nói, giọng chắc chắn. “Về mặt pháp lý, một khi tư cách cổ đông của cô được xác nhận với tỷ lệ biểu quyết đủ lớn, cô có quyền yêu cầu đưa các nội dung này vào chương trình nghị sự chính thức. Từ chối là vi phạm điều lệ công ty, có thể bị khởi kiện ngay tại chỗ.”
Việt Khang mở laptop, trình chiếu lại toàn bộ dòng tiền bất thường mà anh đã lần theo trong nhiều tuần.
“Tôi đã chuẩn bị một bản trình bày trực quan, dễ hiểu cho các cổ đông không chuyên về tài chính,” anh nói. “Đơn giản nhất có thể, để không ai có thể nói rằng chúng ta đang cố tình làm phức tạp hóa vấn đề để gây rối.”
Tôi nhìn quanh phòng, nhìn từng người: luật sư Minh điềm tĩnh như tảng đá, Việt Khang sắc sảo và tận tâm, Minh Khải với gương mặt mang đầy dấu vết của mười hai năm day dứt, và cả Trần Bảo Long, người sẽ tham dự qua kết nối trực tuyến an toàn vì lo ngại về an toàn cá nhân.
“Tôi muốn cảm ơn mọi người,” tôi nói, giọng chân thành. “Không ai trong số các vị bắt buộc phải đứng về phía tôi. Nhưng các vị đã chọn làm vậy.”
“Chúng tôi không đứng về phía chị,” luật sư Minh nói, nhìn tôi qua gọng kính. “Chúng tôi đứng về phía sự thật. Chị chỉ tình cờ là người đang mang sự thật đó ra ánh sáng.”
Đêm đó, sau khi mọi người ra về, Việt Khang ở lại giúp tôi sắp xếp lại tài liệu cuối cùng.
“Chị lo lắng không?” anh hỏi, khi cả hai đã mệt nhoài, ngồi tựa vào ghế.
“Có,” tôi thành thật. “Không phải vì sợ thua. Mà vì ngày mai, dù kết quả thế nào, cuộc đời tôi cũng sẽ không bao giờ giống như trước nữa.”
“Có lẽ đó không phải điều xấu,” Việt Khang nói nhẹ nhàng. “Đôi khi phải phá vỡ hoàn toàn thứ cũ, mới có thể xây dựng thứ gì đó thật sự thuộc về mình.”
Tôi nhìn anh, ánh đèn văn phòng hắt lên gương mặt mệt mỏi nhưng kiên định của anh, và nghĩ, có lẽ giữa cơn bão này, tôi đã tình cờ tìm thấy một bến đỗ mới, dù chưa dám gọi tên nó.
“Cảm ơn anh,” tôi nói, “vì đã ở lại đến tận bây giờ.”
“Tôi sẽ ở lại đến khi nào chị còn cần,” anh đáp, giọng chắc nịch không chút do dự.
