Chương 3
Chuyên gia giám định mà anh Minh giới thiệu tên Hà, một phụ nữ trung niên ít nói, làm việc cho các văn phòng luật tranh tụng lớn nhất thành phố trước khi tách ra làm tư vấn độc lập.
Bà nhìn cuốn sổ tay tôi đưa, không chạm vào ngay mà đeo găng tay trước.
“Chữ viết trong sổ là của một người, thống nhất từ đầu đến cuối,” bà nói sau khi xem qua bằng kính lúp. “Nhưng trang bị xé thì không thể khôi phục nội dung chỉ từ vết xé. Tôi cần bản gốc hồ sơ vụ việc năm đó để đối chiếu.”
“Hồ sơ vụ việc đã được lưu ở đâu?” tôi hỏi.
“Nếu đó là vụ nội bộ không ra tòa hình sự, có thể chỉ còn lưu trong biên bản họp hội đồng quản trị và hồ sơ kiểm toán nội bộ,” bà Hà nói. “Cô có quyền tiếp cận không?”
“Tôi là chủ sở hữu cổ phần chi phối,” tôi nói. “Tôi có quyền tiếp cận mọi hồ sơ lưu trữ của công ty.”
Buổi chiều, tôi xuống phòng lưu trữ, nơi trước đây tôi từng ngồi làm nhân viên hỗ trợ dự án. Người quản lý phòng lưu trữ mới, một cô gái trẻ tên Diệp, có vẻ bối rối khi thấy tôi xuất hiện với tư cách khác hẳn ba tuần trước.
“Chị… cô cần tìm hồ sơ gì ạ?” cô hỏi, giọng vẫn còn ngập ngừng giữa cách xưng hô.
“Biên bản họp hội đồng quản trị năm 2011, từ tháng Ba đến tháng Sáu,” tôi nói. “Và toàn bộ hồ sơ kiểm toán nội bộ cùng giai đoạn.”
Diệp lục trong hệ thống, gõ vài phím, rồi cau mày.
“Hồ sơ biên bản tháng Ba và tháng Tư có đầy đủ,” cô nói. “Nhưng biên bản họp ngày hai mươi bốn tháng Tư báo là đã được chuyển sang lưu trữ ngoài, kho lưu trữ thứ cấp ở quận Bảy. Hồ sơ kiểm toán nội bộ cùng kỳ cũng vậy.”
“Chuyển từ khi nào?” tôi hỏi.
Cô kiểm tra lại. “Ghi chuyển vào tháng Bảy năm đó ạ. Ba tháng sau khi họp.”
Ba tháng sau cuộc họp ngày hai mươi bốn tháng Tư, tức là gần như ngay sau khi cha tôi mất chức chủ tịch.
Không phải quy trình lưu trữ định kỳ.
Ai đó đã chủ động dịch chuyển đúng hồ sơ liên quan đến giai đoạn nhạy cảm nhất ra khỏi kho lưu trữ chính, đến một nơi ít người kiểm tra hơn.
“Kho lưu trữ thứ cấp đó có còn hoạt động không?” tôi hỏi.
“Dạ còn, nhưng thuộc quản lý của một công ty dịch vụ lưu trữ bên ngoài,” Diệp nói. “Muốn lấy hồ sơ phải có xác nhận của người đã ký gửi ban đầu, hoặc lệnh của hội đồng quản trị hiện tại.”
Tôi gật đầu, cảm ơn cô, rồi lên thẳng văn phòng CEO.
Tưởng Dịch Phàm đang họp qua điện thoại khi tôi bước vào, anh ta ra hiệu cho tôi ngồi chờ, kết thúc cuộc gọi trong chưa đầy một phút.
“Cô cần gì?” anh ta hỏi, không vòng vo, điều tôi bắt đầu thấy quen ở anh ta.
“Tôi cần lệnh của hội đồng quản trị để lấy một số hồ sơ từ kho lưu trữ thứ cấp ở quận Bảy,” tôi nói. “Hồ sơ liên quan đến giai đoạn 2011.”
Anh ta nhìn tôi một lúc.
“2011 là năm nào vậy?” anh ta hỏi, rồi như tự trả lời câu hỏi của chính mình, gương mặt anh ta chợt thay đổi. “Đó là năm… vụ việc của người chủ tịch cũ.”
“Anh biết vụ đó?” tôi hỏi.
“Tôi biết sơ sơ,” anh ta nói, giọng chậm lại. “Hồi đó tôi mới học đại học năm hai, không ở trong nước. Chỉ nghe cha tôi nhắc một lần, rất ngắn, rằng có một biến cố lớn khiến công ty suýt sụp đổ, và cha tôi là người đứng ra ổn định lại mọi thứ.”
“Ổn định lại bằng cách nào?” tôi hỏi, cố giữ giọng bình thản.
“Tôi không rõ chi tiết,” anh ta nói. “Cha tôi không thích nhắc về giai đoạn đó. Mỗi lần tôi hỏi, ông chỉ nói đó là chuyện đau lòng, và người chủ tịch cũ đã phạm sai lầm nghiêm trọng.”
Tôi im lặng một lúc, cân nhắc xem nên nói đến đâu.
“Tôi không tin người chủ tịch cũ phạm sai lầm,” tôi nói cuối cùng. “Tôi nghĩ có người đã dàn dựng để ông ấy trông như vậy.”
Tưởng Dịch Phàm nhìn tôi, ánh mắt phức tạp.
“Cô có bằng chứng không?” anh ta hỏi, không phải để bác bỏ, mà như một câu hỏi thật sự cần một câu trả lời thật.
“Chưa đủ,” tôi nói. “Nhưng tôi sẽ có.”
“Vì sao cô quan tâm đến chuyện này đến vậy?” anh ta hỏi. “Đó là chuyện của mười lăm năm trước, chẳng liên quan gì đến thương vụ mua lại của cô.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta, cân nhắc từng lời.
“Có liên quan,” tôi nói. “Vì người chủ tịch cũ đó là cha tôi.”
Căn phòng chợt im lặng đến mức tôi nghe rõ tiếng đồng hồ treo tường đang chạy.
Tưởng Dịch Phàm không nói gì trong một lúc rất lâu, chỉ nhìn tôi như đang xếp lại toàn bộ những gì anh ta vừa biết về tôi vào một trật tự hoàn toàn khác.
“Vậy Trình Ý Ninh…” anh ta nói chậm rãi, “là con gái của Trình Bách Xuyên.”
“Đúng vậy,” tôi nói. “Và tôi cần lệnh của hội đồng quản trị, hoặc chữ ký của CEO đương nhiệm, để mở lại hồ sơ đó.”
Anh ta nhìn tôi thêm một lúc, rồi với tay lấy một tờ mẫu lệnh trên bàn, ký tên vào đó không chút do dự.
“Tôi ký,” anh ta nói, “không phải vì cô là chủ sở hữu cổ phần chi phối. Mà vì nếu cha cô thật sự bị hàm oan, tôi muốn biết sự thật không kém gì cô.”
Tôi cầm tờ lệnh, cảm thấy một điều gì đó dịch chuyển trong lồng ngực mình, thứ cảm giác tôi chưa từng cho phép bản thân có suốt mười lăm năm.
Đó là hy vọng.
Kho lưu trữ thứ cấp ở quận Bảy là một nhà kho công nghiệp cũ, chuyển đổi công năng thành nơi lưu giữ hồ sơ cho hàng chục doanh nghiệp.
Tôi đến cùng bà Hà và một trợ lý pháp lý của anh Minh, cầm theo lệnh có chữ ký của Tưởng Dịch Phàm.
Nhân viên kho lưu trữ mất gần một giờ để tìm ra đúng thùng hồ sơ, đánh số theo mã cũ không còn khớp với hệ thống hiện tại.
Khi thùng hồ sơ được mở ra, bên trong là các tập biên bản họp, đóng bìa cứng, có dấu mộc của công ty.
Bà Hà lật nhanh qua từng tập, tìm biên bản họp ngày hai mươi bốn tháng Tư.
Nó ở đó, nguyên vẹn.
Nhưng khi bà lật đến trang chữ ký xác nhận cuối biên bản, bà dừng lại, cau mày.
“Có gì không ổn?” tôi hỏi.
“Chữ ký của ông Trình Bách Xuyên ở đây,” bà Hà nói, chỉ vào trang giấy, “nhưng nét bút không giống với chữ ký của ông ấy ở các biên bản trước đó, dù tên và nét chính vẫn tương tự.”
Bà lấy ra một tập biên bản khác, từ tháng Hai cùng năm, đặt hai chữ ký cạnh nhau.
Ngay cả tôi, không phải chuyên gia, cũng nhìn ra sự khác biệt. Ở biên bản tháng Tư, nét chữ hơi cứng hơn, khoảng cách giữa các chữ cái đều đặn một cách bất thường, như thể được viết chậm rãi, có chủ đích, thay vì ký nhanh theo thói quen.
“Chữ ký giả,” tôi nói.
“Tôi cần đưa về phòng thí nghiệm để phân tích kỹ hơn, đối chiếu áp lực nét bút, độ nghiêng, điểm dừng bút,” bà Hà nói. “Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, khả năng cao đây là chữ ký giả mạo có luyện tập.”
Biên bản họp ngày hai mươi bốn tháng Tư đó, theo nội dung, ghi nhận việc chủ tịch Trình Bách Xuyên chấp thuận phương án chuyển một khoản vốn lớn qua công ty con tại Hồng Kông, phương án mà theo cuốn sổ tay tôi tìm được, chính ông là người phản đối mười ngày trước đó.
Nói cách khác, ai đó đã tạo ra một biên bản giả, với chữ ký giả, để biến ông từ người phản đối thành người chấp thuận phương án chuyển vốn khả nghi đó.
Và khoản vốn đó, theo hồ sơ kiểm toán nội bộ cùng thùng lưu trữ, sau đó đã biến mất khỏi sổ sách công ty con ở Hồng Kông trong vòng sáu tháng, không có dấu vết đường đi tiếp theo.
Đây chính là khoản tiền mà sau này người ta gọi là hành vi biển thủ của cha tôi.
Tôi ngồi trong xe trên đường về, tay siết chặt bản sao biên bản, cảm giác vừa nhẹ nhõm vừa căm phẫn cùng lúc trào lên trong lồng ngực.
Nhẹ nhõm vì cuối cùng cũng có bằng chứng cụ thể.
Căm phẫn vì mười lăm năm, cha tôi đã sống và chết dưới cái bóng của một tội danh mà ông không hề gây ra, chỉ vì một chữ ký bị làm giả.
Tối đó, tôi gọi Tưởng Dịch Phàm, báo rằng tôi cần gặp anh ta gấp.
Chúng tôi gặp nhau ở quán cà phê nhỏ gần công ty, không phải văn phòng, vì tôi không muốn cuộc trò chuyện này bị ghi âm lại bởi bất kỳ hệ thống nào.
“Tôi tìm thấy chữ ký giả trong biên bản họp ngày cha tôi bị buộc tội,” tôi nói, đặt bản sao lên bàn.
Anh ta cầm lấy, xem kỹ, gương mặt dần trở nên nghiêm trọng.
“Ai làm việc này?” anh ta hỏi.
“Tôi chưa biết chắc,” tôi nói. “Nhưng người có động cơ lớn nhất, và người duy nhất có đủ quyền hạn để tiếp cận cả chữ ký thật của cha tôi lẫn quy trình lưu trữ hồ sơ, chỉ có một người trong công ty lúc đó.”
Tôi không nói tên. Không cần.
Tưởng Dịch Phàm đặt tờ giấy xuống, hai tay đan vào nhau, ánh mắt nhìn xuống bàn rất lâu.
“Cha tôi,” anh ta nói, không phải câu hỏi.
“Tôi không khẳng định,” tôi nói. “Tôi chỉ nói người có động cơ và điều kiện.”
“Cô không cần nói giảm với tôi,” anh ta nói, ngẩng lên nhìn tôi thẳng. “Nếu cha tôi thật sự làm điều đó, tôi muốn biết toàn bộ sự thật, dù nó có tệ đến đâu.”
Tôi nhìn anh ta, cố tìm trong gương mặt đó một dấu hiệu của sự phòng thủ, của việc cố che giấu, nhưng chỉ thấy một sự mệt mỏi thành thật.
“Vì sao anh sẵn sàng như vậy?” tôi hỏi.
“Vì tôi ngồi ở ghế CEO này ba năm nay,” anh ta nói, “và trong ba năm đó, có những lúc tôi cảm thấy mình đang ngồi nhầm ghế. Không phải vì tôi không đủ năng lực. Mà vì tôi luôn có cảm giác nền móng tôi đang đứng lên không thật sự vững, như thể có một phần lịch sử của công ty này bị giấu đi, và tôi chưa bao giờ được biết đủ để tin rằng mình xứng đáng với vị trí này.”
“Bây giờ tôi hiểu vì sao,” anh ta nói thêm, giọng nhỏ lại. “Nếu nền móng đó được xây trên một lời vu khống, thì đúng là tôi đã ngồi nhầm ghế suốt thời gian qua.”
Tôi không biết nói gì để an ủi anh ta, và tôi cũng không chắc mình nên an ủi anh ta lúc này.
Người tôi cần đối đầu là cha anh ta.
Nhưng người đang ngồi trước mặt tôi, sẵn sàng lật đổ chính nền móng quyền lực của gia đình mình để tìm ra sự thật, lại là một người tôi bắt đầu không muốn xem là kẻ thù.
“Tôi sẽ tiếp tục điều tra,” tôi nói. “Anh có thể chọn đứng ngoài.”
“Không,” anh ta nói ngay, không chút chần chừ. “Nếu có sự thật cần được lật lại, tôi muốn là người giúp lật nó, chứ không phải người bị nó chôn vùi cùng.”
