Chương 3
Tôi đã chuẩn bị cho một cuộc họp với ban chiến lược khu vực.
Tôi chưa chuẩn bị cho một cuộc họp có mặt Giám đốc điều hành tập đoàn mẹ.
Ông ngồi ở đầu bàn với bộ vest xám và cái nhìn đánh giá mà tôi đoán ông dùng khi xem xét tất cả mọi thứ, từ báo cáo tài chính đến con người. Tóc ông đã điểm bạc ở thái dương, khuôn mặt không già không trẻ, loại khuôn mặt mà tuổi tác không để lại nhiều dấu vết vì người ta đã học cách không để cảm xúc ngồi trên mặt quá lâu.
Anh Thành Văn ngồi bên phải ông. Hai người từ phòng chiến lược khu vực ngồi hai bên. Một người tôi không nhận ra, có lẽ từ bộ phận khác.
Và tôi, một chuyên viên cấp trung từ tầng mười hai, đứng ở cửa phòng họp với laptop trong tay và một bản trình bày được làm trong ba tiếng.
“Trương Hy,” anh Thành Văn nói, giọng bình thường như mọi khi, “vào đi em.”
Tôi bước vào. Ngồi xuống chiếc ghế duy nhất còn trống, đối diện với màn hình chiếu.
“Anh Đức Khải,” anh Thành Văn giới thiệu, chỉ về phía Giám đốc điều hành, “muốn nghe trực tiếp về chiến dịch này. Em trình bày đi.”
Không có thêm lời nào khác. Không có “em cứ thoải mái” hay “đây chỉ là cuộc trao đổi thôi”. Anh Thành Văn không phải kiểu người nói những câu như thế.
Tôi cắm cáp HDMI, mở file trình bày.
“Em xin phép bắt đầu bằng bối cảnh.”
Tôi không nhìn vào màn hình. Tôi nhìn vào những người ngồi trước mặt mình, lần lượt, từng người một.
“Chiến dịch Q3 này em xây dựng từ một nhận xét nhỏ mà em thấy trong báo cáo khách hàng quý trước: tỷ lệ chuyển đổi từ nhận thức sang mua hàng ở nhóm hai mươi lăm đến ba lăm tuổi thấp hơn kỳ vọng mười bảy phần trăm. Em đặt câu hỏi tại sao, và câu trả lời không nằm ở sản phẩm.”
Tôi chuyển slide.
“Nó nằm ở cách chúng ta đang nói chuyện với họ.”
Anh Đức Khải nhìn tôi. Chưa nói gì.
Tôi tiếp tục.
Hai mươi phút sau, khi tôi kết thúc phần Hà Nội và chuyển sang phần mở rộng toàn quốc mà tôi vừa làm trong ba tiếng, anh Đức Khải lần đầu tiên lên tiếng.
“Em phân tầng thị trường theo tiêu chí gì?”
“Theo mật độ điểm bán và hành vi mua hàng trực tuyến, thưa anh. Không phải theo địa giới hành chính, vì người tiêu dùng không mua hàng theo địa giới hành chính.”
Im lặng ngắn.
“Tiếp tục.”
Tôi tiếp tục.
Năm phút cuối, anh Đức Khải hỏi thêm hai câu nữa, đều là câu hỏi mà tôi có dữ liệu để trả lời, dù dữ liệu đó không hoàn chỉnh và tôi nói thẳng điều đó.
“Phần này em còn thiếu dữ liệu từ quý hai của các tỉnh phía Nam. Em có thể bổ sung trong vòng một tuần nếu được cung cấp báo cáo nội bộ.”
Anh Đức Khải nhìn anh Thành Văn. Hai người trao đổi bằng mắt theo cái cách của người đã làm việc cùng nhau lâu năm.
Rồi anh Đức Khải nhìn lại tôi.
“Em đang ở vị trí nào?”
“Chuyên viên truyền thông cấp ba, thưa anh.”
“Bao lâu rồi?”
“Hai năm tám tháng.”
Ông gật đầu, không nói gì thêm. Đứng dậy trước, bắt tay anh Thành Văn, rồi bước ra.
Phòng họp còn lại bốn người. Hai người từ chiến lược khu vực bắt đầu hỏi thêm câu hỏi chi tiết về kênh triển khai.
Tôi trả lời.
Trả lời từng câu, không vội, không bỏ sót.
Và trong suốt thời gian đó, tôi không một lần nghĩ đến Phương Lâm.
Không phải vì tôi quên. Mà vì lúc này, trong phòng này, chuyện quan trọng duy nhất là câu hỏi trước mặt tôi và câu trả lời tốt nhất tôi có thể đưa ra.
Cái còn lại, có thể chờ.
Cuộc họp kết thúc lúc bốn giờ mười lăm phút.
Tôi đứng dậy, thu dọn laptop, bắt tay lần lượt với hai người từ phòng chiến lược khu vực. Họ bắt tay tôi theo cái cách người ta bắt tay khi đã thay đổi cách nhìn về ai đó trong vòng chưa đầy một giờ.
Anh Thành Văn tiễn tôi ra cửa. Ông dừng lại ở ngưỡng cửa, giọng thấp hơn để chỉ tôi nghe thấy.
“Em về nghỉ sớm hôm nay đi. Ngày mai anh cần em vào lúc tám giờ.”
“Vâng.”
“Và Trương Hy.” Anh dừng lại. “Đừng nói chuyện này với ai ở tầng mười hai.”
Tôi hiểu. Tôi gật đầu.
Thang máy xuống tầng mười hai, tôi ghé lại bàn lấy túi xách và áo khoác. Văn phòng đang ở giờ cao điểm buổi chiều, mọi người bận rộn với deadline của riêng mình.
Chỗ ngồi của Phương Lâm vẫn trống. Trên bàn còn vài tập tài liệu chưa được thu dọn, một cốc bút, và tấm ảnh nhỏ cô ấy để ở góc màn hình từ ngày đầu vào làm, chụp cùng ai đó tôi không biết ở đâu đó tôi không nhận ra.
Tôi nhìn tấm ảnh đó một giây.
Rồi nhìn đi chỗ khác.
Đồng nghiệp ngồi gần nhất, anh Tùng, ngẩng đầu lên khi tôi đi ngang.
“Hy, em về sớm à?”
“Dạ, anh ơi. Mệt một chút.”
Anh Tùng nhìn tôi theo cái nhìn có nhiều câu hỏi không được hỏi thành lời. “Hôm nay…” anh bắt đầu, rồi dừng lại.
“Không sao đâu, anh,” tôi nói. “Mọi chuyện sẽ ổn.”
Tôi đi ra.
Trong thang máy, lần đầu tiên từ sáng đến giờ, tôi thở ra một cái thật sâu.
Không phải thở phào. Chỉ là… thở. Kiểu thở của người đã nhịn thở quá lâu mà không nhận ra.
Ra đến sảnh, tôi bước ra ngoài, đứng trên vỉa hè, để cái nắng tháng Bảy đổ lên vai. Nắng trắng và nặng như tôi đã nghĩ từ sáng.
Điện thoại rung. Tin nhắn từ số của Tuấn Anh.
“Mày có khỏe không thật sự?”
Tôi nhìn tin nhắn đó lâu hơn cần thiết.
Có những câu hỏi mà người ta hỏi vì phép lịch sự. Và có những câu hỏi mà người ta hỏi vì thật sự muốn biết câu trả lời. Tôi không chắc đây là loại nào, nhưng tôi thấy có gì đó ấm khi được hỏi.
“Khỏe,” tôi gõ lại. “Cảm ơn mày đã nhắn.”
Anh ấy gõ lại sau vài giây: “Hồi đó mày không nói gì. Tao cứ thấy áy náy mãi.”
Tôi đọc tin nhắn đó, đứng yên trên vỉa hè.
Năm năm trước. Anh Tuấn Anh đã ngồi cạnh tôi trong phòng họp thực tập, đã thấy tôi nhìn Phương Lâm trình bày kế hoạch của tôi mà không nói gì. Và suốt năm năm qua, anh ấy đã “thấy áy náy mãi” vì điều đó.
Tôi gõ: “Không phải lỗi của mày. Hồi đó tao không biết mình phải làm gì.”
“Bây giờ thì mày biết rồi đúng không?”
Tôi nhìn câu đó. Nhìn lâu.
“Biết rồi,” tôi gõ lại.
Rồi tôi gọi taxi về nhà, ngồi tựa vào cửa xe, nhìn Hà Nội trôi qua ngoài cửa kính.
Bây giờ tôi biết rồi.
Nhưng “biết rồi” không có nghĩa là không đau. Nó chỉ có nghĩa là lần này, cơn đau không khiến mình đứng im.
Tôi mở laptop trên đùi, bắt đầu gõ phần còn thiếu trong bản trình bày.
Dữ liệu quý hai các tỉnh phía Nam. Tôi cần tìm nguồn công khai trước, rồi ngày mai xin anh Thành Văn cung cấp số nội bộ.
Taxi chạy qua Hồ Gươm, mặt nước chiều muộn phẳng và xanh.
Tôi không nhìn ra cửa sổ.
Tôi nhìn màn hình.