Chương 1
Căn phòng họp của gia tộc Tống rộng đến mức tiếng thở cũng vang.
Tôi, Lâm Khánh Dao, ngồi ở đầu bàn bên trái, tay đặt lên lòng, lưng thẳng.
Đối diện là mẹ chồng, bà Tống Phượng Lan, tóc búi cao, môi tô đỏ thẫm, nhìn tôi như nhìn một thứ chướng mắt cần dọn đi.
Bên phải bà là chồng tôi, Tống Minh Khải. Anh ta không nhìn tôi. Đã lâu rồi anh ta không nhìn tôi.
“Khánh Dao,” bà Lan lên tiếng, giọng ngọt như đường bọc ngoài thứ cực đắng, “con dâu nhà Tống phải sinh được con trai. Ba năm qua con không làm được điều đó…”
“Bốn năm,” tôi sửa nhẹ.
Bà khựng một nhịp. Rồi tiếp tục, như thể tôi không nói gì.
“Gia tộc đã thảo luận kỹ. Chúng ta cần con ký vào bản thỏa thuận này. Từ bỏ quyền thừa kế tài sản họ Tống, kể cả cổ phần và bất động sản dưới tên con. Đổi lại, con được ra đi thể diện, nhận một khoản… bồi thường.”
Bà đẩy tờ giấy qua bàn.
Tôi không cúi xuống đọc. Tôi đã biết trong đó viết gì.
Minh Khải vẫn không nhìn lên.
Thư ký gia tộc, ông Hà Trung Kiên, ngồi góc phải, tay đặt lên cặp hồ sơ dày. Ông ta là người soạn tờ giấy này. Ông ta cũng là người năm năm trước đã dẫn tôi vào gặp ông nội chồng, cụ Tống Đức Hoài, lúc cụ hấp hối.
Hôm đó chỉ có ba người trong phòng.
Cụ Hoài, tôi, và ông Kiên.
Cụ nói với tôi rất nhiều thứ. Về gia tộc này. Về đứa cháu trai mà cụ biết rõ hơn ai hết. Về thứ cụ muốn giữ lại cho người xứng đáng.
Rồi cụ đưa cho tôi một chiếc chìa khóa.
Tôi cầm chiếc bút mà bà Lan vừa đặt trước mặt.
Mọi người trong phòng đều ngả người ra sau, vẻ mặt giãn ra.
Tôi ký tên mình lên tờ giấy đó, nét bút đều, không run.
Bà Lan nhìn chữ ký của tôi, môi hé ra một nụ cười thỏa mãn.
“Con dâu biết điều,” bà gật đầu, giọng mang theo cả sự khinh miệt lẫn nhẹ nhõm, “gia tộc sẽ không bạc đãi con.”
“Cảm ơn mẹ,” tôi đẩy tờ giấy lại phía bà.
Ông Kiên vươn tay cầm lấy, vuốt phẳng mép giấy. Bàn tay ông hơi run. Chỉ một chút. Không ai để ý ngoài tôi.
Tôi để ý, vì tôi đang nhìn ông.
Ông Kiên biết. Ông biết tất cả. Nhưng ông già rồi, mệt rồi, và ông chưa bao giờ là người dám cưỡng lại bà Lan.
Minh Khải sau cùng cũng nhìn lên.
Ánh mắt anh ta thoáng qua mặt tôi rồi đi thẳng xuống tờ giấy. Có gì đó trong đó, không hẳn là nhẹ nhõm, cũng không hẳn là tội lỗi. Chỉ là… trống.
Tôi nhận ra mình đã không còn muốn đọc ánh mắt đó nữa.
Đó là lúc tôi hiểu mình thật sự đã xong.
“Khánh Dao có thể về dọn đồ từ hôm nay,” bà Lan nói, đứng dậy, “chúng ta sẽ hoàn tất thủ tục ly hôn trong tuần tới.”
“Được,” tôi cũng đứng lên, “nhưng trước khi về, tôi muốn hỏi một điều.”
Bà dừng lại.
“Gia tộc họ Tống có biết rằng di chúc của cụ Đức Hoài có hai bản không?”
Phòng họp lặng đi.
Không phải im lặng lịch sự. Là im lặng của người vừa nghe thấy tiếng gạch dưới chân bắt đầu nứt.
Bà Lan cau mày. “Con đang nói gì vậy? Di chúc đã được công bố từ năm ngoái, tài sản phân chia đã…”
“Đó là bản được công bố,” tôi mỉm cười, nhẹ, lạnh, “còn bản gốc, bản cụ ký trước mặt tôi và ông Kiên ba tháng trước khi cụ mất… bản đó nằm trong một két sắt.”
Tôi dừng lại đúng một nhịp.
“Két sắt đứng tên tôi, tại chi nhánh Ngân hàng Á Đông đường Trung Sơn, số hộp 0047.”
Ông Kiên đặt cặp hồ sơ xuống bàn, tiếng động khẽ nhưng trong căn phòng đang im phắc này, nó vang như tiếng chuông.
Bà Lan mở miệng, rồi khép lại.
Lần đầu tiên trong năm năm tôi sống trong nhà này, tôi thấy bà không tìm được lời.
“Cụ Đức Hoài… cụ không thể…” Minh Khải lên tiếng, giọng khàn đi.
“Cụ có thể,” tôi quay sang nhìn anh ta lần cuối, “và cụ đã làm. Ba tháng trước khi mất, cụ còn tỉnh táo hơn bất kỳ ai trong căn phòng này lúc này.”
Tôi nhìn xuống tờ giấy tôi vừa ký.
“Tôi vừa từ bỏ phần thừa kế mà bản di chúc được công bố năm ngoái phân cho gia đình Minh Khải. Nhưng bản di chúc gốc không phân tài sản theo kiểu đó. Bản đó phân theo tên người. Và trong đó… có tên tôi.”
Bà Lan ngồi xuống. Không phải vì muốn. Vì chân bà không còn đỡ được nữa.
“Khánh Dao, con… con dám…” giọng bà rít lên, nhỏ và run.
“Con không dám gì cả, mẹ ơi,” tôi nhấc túi xách lên vai, “con chỉ đang trả lời câu hỏi của mình. Gia tộc họ Tống có biết không? Bây giờ thì biết rồi.”
Tôi bước qua cánh cửa phòng họp.
Không ngoái lại.
Nắng chiều đã đổ xuống hành lang, vàng và dài, như thể cố tình chờ tôi. Tôi đi qua nó, nghe tiếng gót giày mình gõ đều trên sàn đá hoa cương, tiếng duy nhất trong cả tòa biệt thự lúc đó.
Phía sau lưng, tôi nghe thấy tiếng bà Lan gọi tên chồng mình.
Rồi tiếng ông Kiên, khẽ, mệt mỏi. “Thôi, bà ơi. Tôi đã nói từ đầu rồi.”
Tôi ra đến cổng, lấy điện thoại gọi taxi.
Trong lúc chờ, tôi nhận được một tin nhắn từ số lạ. Chỉ một dòng, không có tên người gửi.
“Tôi đã đọc bản di chúc thứ hai. Chúng ta cần gặp nhau. Tôi là người cụ Đức Hoài nhờ làm chứng, người thứ ba trong căn phòng hôm đó. Tên tôi không có trong bất kỳ hồ sơ nào mà gia tộc họ Tống đang giữ.”
Tôi đọc đi đọc lại tin nhắn đó.
Ba tháng trước khi cụ mất… tôi và ông Kiên là hai người làm chứng.
Chỉ hai người.
Tôi không trả lời tin nhắn đó.
Không phải vì sợ. Mà vì người biết cách chờ mới là người thực sự nắm thế chủ động.
Taxi đến, tôi lên xe, nhìn ra cửa kính. Tòa biệt thự họ Tống thu nhỏ dần rồi mất hút sau khúc quanh. Tôi thở ra, lần đầu tiên trong cả buổi chiều, thở thật sự.
Không nhẹ nhàng như người ta hay tả trong phim.
Chỉ là… rỗng. Một khoảng rỗng sạch.
Người gửi tin nhắn đó tên Vũ Hà Trung.
Tôi biết được sau khi về nhà, mở laptop, tra số điện thoại qua dịch vụ định danh tôi trả phí từ hai năm trước, hồi còn làm trợ lý pháp lý cho ông Kiên. Cái nghề đó dạy tôi nhiều thứ. Trong đó có việc không bao giờ gặp người lạ khi chưa biết họ là ai.
Vũ Hà Trung. Bốn mươi hai tuổi. Công chứng viên độc lập. Văn phòng nhỏ ở quận 3, không thuộc bất kỳ hãng luật nào.
Tôi ngồi yên với thông tin đó một lúc.
Công chứng viên độc lập.
Nếu cụ Đức Hoài muốn một người làm chứng mà gia tộc họ Tống không thể truy ra… thì đây là lựa chọn đúng.
Nhưng cụ đã không nói gì với tôi về ông này.
Điều đó có nghĩa là cụ có lý do.
Tôi nhắn lại lúc mười một giờ đêm, đúng một câu.
“Sáng mai, tám giờ, quán cà phê Nhất Lâm đường Phan Xích Long. Tôi đặt bàn góc trong, tên Dao.”
Địa điểm tôi chọn, khung giờ tôi chọn, thế ngồi tôi chọn.
Ai muốn gặp tôi thì chơi theo luật tôi.
Ông ta trả lời trong vòng ba mươi giây. “Được.”
Chỉ vậy thôi.
Tôi đặt điện thoại xuống, nhìn trần nhà căn hộ thuê một phòng mà tôi dọn vào từ sáng sớm hôm nay, trước cả cuộc họp ở biệt thự họ Tống.
Hành lý tôi chỉ có hai vali và một hộp carton nhỏ.
Năm năm trong căn nhà đó, tôi không tích lũy thêm gì ngoài vài thứ sách và một bộ ấm trà cụ Đức Hoài cho trước khi mất.
Tôi pha một chén trà, ngồi bên cửa sổ.
