Chương 1
Tôi đang ký vào tờ giấy chuyển nhượng thì điện thoại đổ chuông.
Số lạ. Tôi bắt máy.
“Chị Lâm Tịnh? Tôi là Trần Minh, bên Ban quản lý dự án sân bay quốc tế Bắc Hà. Chúng tôi cần làm việc với chị về thửa đất số 47, xã Minh Lương.”
Tay tôi dừng lại.
Bút vẫn chạm giấy. Nhưng tôi không ký nữa.
Năm tháng trước, bố gọi tôi và anh Lâm Khải về nhà.
Bữa cơm không có gì đặc biệt. Canh chua, cá kho, dưa muối. Bố ăn xong mới nói, giọng mệt mỏi như người đã suy nghĩ rất lâu.
“Bố muốn chia trước khi không còn minh mẫn nữa.”
Anh Khải ngồi thẳng người. Tôi nhìn vào bát cơm.
Bố đọc danh sách. Căn nhà phố cho anh Khải. Mảnh đất vườn cho anh Khải. Tiền tiết kiệm chia đôi, nhưng phần của tôi trừ đi “khoản bố đã hỗ trợ hồi tôi học đại học.”
Còn lại cho tôi, là căn nhà cấp bốn ở quê, xã Minh Lương, hơn bốn mươi cây số cách thành phố.
Anh Khải cười, không giấu.
“Con gái rồi cũng về nhà chồng. Ở quê yên tĩnh, khỏe hơn.”
Tôi không nói gì.
Không phải vì không có gì để nói. Mà vì tôi biết, nói lúc đó là vô ích.
Tôi ký vào biên bản phân chia tài sản. Chữ ký ngay ngắn, không run.
Căn nhà ở Minh Lương mái ngói đã ố vàng, tường loang lổ vết ẩm. Khoảnh sân trước cỏ mọc ngang gối. Hàng xóm già nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, hỏi thăm rồi thở dài.
Tôi dọn về đó ở một mình.
Buổi sáng đầu tiên, tôi ngồi uống trà trước hiên, nhìn ra con đường đất đỏ vắng người. Trời mờ mờ sương. Xa xa có tiếng gà gáy.
Tôi nghĩ, nếu đây là hình phạt, thì tôi sẽ sống tốt ở đây.
Không phải để chứng minh điều gì với ai.
Chỉ là… tôi cần một chỗ để thở lại.
Năm tháng trôi qua. Tôi trồng rau, sửa mái, quét sân. Học cách ngủ sớm và dậy khi trời còn tối.
Tôi đặt bút xuống.
Nhìn lại tờ giấy chuyển nhượng, mực vừa chạm một nửa chữ ký.
Giọng ông Trần Minh vẫn đang nói ở đầu dây.
“Thửa đất số 47 nằm trong vùng giải phóng mặt bằng ưu tiên. Chúng tôi cần gặp chị sớm để thương thảo mức đền bù.”
Tôi hỏi, giọng rất bình.
“Mức đền bù dự kiến khoảng bao nhiêu?”
Ông ta báo con số.
Tôi nghe xong, để yên vài giây.
“Được. Thứ Hai tôi lên văn phòng.”
Tôi cúp máy. Nhìn sang người môi giới đang ngồi đối diện, vẫn cầm bộ hồ sơ chuyển nhượng, ánh mắt hơi dò xét.
Tôi gấp tờ giấy lại. Gọn gàng.
“Xin lỗi anh. Hôm nay tôi chưa ký được.”
Buổi tối hôm đó, anh Khải gọi.
Chắc ai đó đã nói với anh. Cái thị trấn nhỏ, tin đồn đi nhanh hơn gió.
“Nghe nói mày định bán đất?”
Tôi đang nhặt rau. Tiếp tục nhặt.
“Không bán nữa.”
Im lặng một nhịp.
“Sao lại không bán? Mày giữ đất ấy làm gì, ở mãi dưới quê à?”
Tôi không trả lời câu đó.
“Anh cần gì không?”
“Tao hỏi mày chứ…”
“Anh không cần gì thì thôi nhé. Em bận.”
Tôi cúp máy. Tay vẫn nhặt rau, nhịp không đổi.
Bên ngoài trời bắt đầu tối. Tiếng dế kêu lên từng đợt.
Tôi không ghét anh Khải.
Điều đó nghe có vẻ lạ, nhưng là thật.
Tôi chỉ thấy mệt với cái cách anh nhìn tôi, cái cách anh cười hôm bố chia tài sản, nhẹ tênh như thể phần của tôi là điều hiển nhiên đúng.
Năm tháng ở Minh Lương, tôi không nghĩ nhiều đến chuyện đó.
Tôi nghĩ đến buổi sáng đầu tiên ngồi trước hiên. Nghĩ đến luống rau cải lên xanh sau mưa. Nghĩ đến bà Năm hàng xóm mang sang cho tôi nửa rổ khoai lang, nói “con ở một mình, ăn cho ấm bụng.”
Tôi đã bắt đầu thở lại, thật sự.
Và bây giờ, con số ông Trần Minh đọc qua điện thoại vẫn còn đang nằm yên trong đầu tôi, rõ như mực in.
Tôi không vội.
Người ta hay nghĩ tiền lớn thì phải cuống. Phải gọi lại ngay, phải ký ngay, phải sợ lỡ mất.
Nhưng tôi đã học được một thứ ở Minh Lương: cái gì thật sự của mình, nó không đi đâu cả.
Thứ Hai, tôi lên văn phòng Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng huyện.
Mặc áo bông kẻ, đi dép thấp. Tóc búi gọn.
Ông Trần Minh bắt tay, nhìn tôi một cái, hơi ngạc nhiên vì tôi trẻ hơn ông nghĩ.
Họ trải bản đồ quy hoạch ra bàn. Thửa 47 được khoanh đỏ, nằm ngay cạnh đường vành đai kết nối sân bay.
“Chị xem, vị trí này thuộc diện ưu tiên thu hồi. Mức đền bù chúng tôi đề xuất là hợp lý so với khung tỉnh.”
Tôi nhìn bản đồ. Nhìn lâu.
“Anh cho tôi xem lại điều khoản tái định cư không?”
Ông ta hơi dừng. Đưa hồ sơ sang.
Tôi lật từng trang. Chậm rãi.
Có một điều khoản nhỏ, nằm cuối phụ lục, cho phép chủ đất được chọn hình thức bồi thường bằng đất dịch vụ thay vì tiền mặt, tỷ lệ chuyển đổi theo bảng giá sàn tỉnh ban hành.
Tôi gạch dưới dòng đó bằng bút.
“Tôi muốn chọn hình thức này.”
Ông Trần Minh nhìn tôi, im một giây.
“Chị… chắc chắn chưa? Tiền mặt vẫn tiện hơn cho nhiều người.”
“Tôi chắc.”
Chiều về, anh Khải gọi lần nữa.
Lần này giọng khác. Có thứ gì đó không còn nhẹ tênh nữa.
“Tao nghe nói mày lên huyện. Ký rồi à?”
“Chưa ký bán. Ký nhận đất dịch vụ.”
Im lặng dài hơn lần trước.
“Đất dịch vụ… ở đâu?”
“Mặt đường vành đai, anh ơi.”
Tôi nghe tiếng anh thở. Nghe rõ lắm.
“Mày… mày biết từ trước à?”
Tôi nhìn ra cửa sổ. Bầu trời Minh Lương vẫn xanh như mọi chiều. Luống rau cải vẫn xanh sau mưa.
“Không. Em chỉ ở lại.”
Cúp máy.
Tối đó, bà Năm gõ cửa mang sang rổ khoai lang như thường lệ.
Tôi pha trà, hai bà cháu ngồi ngoài hiên.
Bà Năm hỏi tôi hôm nay đi đâu về trông khác.
“Khác sao hả bà?”
“Khác như người không còn chờ nữa.”
Tôi cười, bẻ một khúc khoai, nhai chậm.
Không phải vì tôi không còn chờ. Mà vì thứ tôi chờ đã đến, lặng lẽ, không kèn không trống, đúng như cách nó vẫn luôn đến với những người chịu ở lại đủ lâu.
Đất dịch vụ mặt đường vành đai. Vài năm nữa sân bay đổ về, con đường đó sẽ là gì, tôi không cần nói thêm.
Anh Khải biết. Ông Trần Minh biết. Những người đã khuyên tôi bán nhanh, bán gọn, “đừng giữ đất quê làm gì”… họ đều biết.
Chỉ là không ai nghĩ tôi cũng biết.
Bà Năm nhìn tôi, ánh mắt hiền như bao giờ.
“Rồi mày tính ở lại thật à, con?”
Tôi nhìn luống rau cải. Nhìn bầu trời Minh Lương đang lên sao.
“Dạ. Ở lại thật.”
Bà gật đầu, không hỏi thêm. Người già ở quê hay vậy, họ biết câu trả lời nào là thật ngay từ cái giọng.
Trà nguội dần. Đêm xuống yên.
Nhưng điện thoại tôi, lúc này, đang có một tin nhắn từ số máy lạ mà tôi nhận ra ngay chỉ bằng ba chữ ký tên cuối.